rối loạn cơ thể

Tăng thân nhiệt xảy ra khi cơ chế điều nhiệt của cơ thể bị rối loạn và nhiệt độ cơ thể trở nên quá cao. Có một số mức độ của chứng tăng thân nhiệt, bao gồm: Chuột rút nhiệt, biểu hiện như đổ mồ hôi nhiều và chuột rút cơ khi tập thể dục. Kiệt sức vì nhiệt, nghiêm trọng hơn và gây ra một loạt các triệu chứng khác nhau. Rối loạn tiêu hóa có thể ảnh hưởng đến hấp thu chất dinh dưỡng trong cơ thể trẻ. Vì thế bé sẽ còi cọc hơn những bé khác. Trẻ rối loạn tiêu hóa thường xuyên khiến con khó chịu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hàng ngày của bé. Đông y điều trị Huyết áp thấp - Rối loạn tiền đình - Suy nhược cơ thể. 96 likes. Lấy bệnh nhân làm trung tâm, tập trung vào sự an toàn và hiệu quả điều Rối loạn tâm lý tâm thần thường đi kèm các bệnh nội sinh. 28. Rối loạn dạng cơ thể. Somatic Symptom Disorder (Somatoform Disorder/Psychosomatic Diseases)/Rối loạn tâm thể (Rối loạn triệu chứng thực thể) +. Rối loạn tâm thể là các rối loạn thể hiện bằng các triệu chứng thể Những người mắc COVID-19 cũng có nguy cơ bị co giật cao hơn 80%, có các vấn đề về sức khỏe tâm thần như lo lắng hoặc trầm cảm cao hơn 43%, có nguy cơ bị đau đầu cao hơn 35% và có nguy cơ bị rối loạn vận động, chẳng hạn như run, cao hơn 42% so với nhóm người chưa từng mắc bệnh. E. Rối loạn không phải là hậu quả trực tiếp của thuốc (ví dụ lạm dụng ma tuý, thuốc) hoặc một bệnh cơ thể và không thể giải thích được tốt hơn bởi các rối loạn tâm thần khác,rối loạn ám ảnh dị hình cơ thể hoặc rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD). H5 Ffcredit. Nguồn chủ đề Cơ thể hóa là biểu hiện của hiện tượng tâm thần như các triệu chứng thể chất cơ thể. Những rối loạn được đặc trưng bởi sự cơ thể hóa từ những người mà ở đó các triệu chứng phát triển một cách vô thức và phi lý chí đến những người có triệu chứng phát triển một cách có ý thức và có lý chí. Sự liên tục này bao gồm Rối loạn triệu chứng cơ thể và các rối loạn liên quanCác rối loạn giả bệnhBịa bệnh không phải là rối loạn tâm thầnTrong tất cả các rối loạn, bệnh nhân tập trung nổi bật vào mối quan tâm về mặt cơ thể. Do đó, cơ thể hóa thường dẫn bệnh nhân đến khám và điều trị nội khoa hơn là chăm sóc tâm loạn triệu chứng cơ thể và các rối loạn liên quan được đặc trưng bởi các triệu chứng cơ thể dai dẳng có liên quan đến những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi quá mức hoặc không thích ứng trong việc đáp ứng với những triệu chứng này và các mối quan tâm liên quan đến sức khỏe. Những rối loạn này gây phiền toái và thường làm suy giảm đến các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp, học tập hoặc các khía cạnh chức năng khác. Chúng bao gồm Rối loạn dạng cơ thể và rối loạn lo âu về bệnh tật là phổ biến rối loạn giả bệnh liên quan đến việc làm giả các triệu chứng thể chất hoặc tâm lý và/hoặc dấu hiệu khi không có các động cơ rõ ràng từ bên ngoài ví dụ, thêm thời gian nghỉ làm, trợ cấp tàn tật, hoặc thuốc phiện, tránh nghĩa vụ quân sự hoặc truy tố hình sự. Thuật ngữ hội chứng Munchausen không còn được sử dụng cho các rối loạn giả bệnh nữa. Bịa bệnh không phải là rối loạn giả bệnh như có thể bị nhầm lẫn với tình trạng này, là giả vờ có chủ ý các triệu chứng thể chất hoặc tâm lý do một động cơ bên ngoài thúc đẩy, là đặc điểm phân biệt giữa bịa bệnh và các rối loạn giả loạn triệu chứng thần kinh chức năng bao gồm các triệu chứng hoặc thiếu hụt thần kinh thường liên quan đến chức năng vận động hoặc chức năng cảm giác phát sinh một cách vô thức và vô điều kiện và không tương thích với các cơ chế sinh lý bệnh hoặc con đường giải phẫu đã biết. Rối loạn lo âu về bệnh tật là nỗi lo và sợ về việc có hoặc mắc phải một rối loạn nghiêm trọng. Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến các bệnh trạng khác được chẩn đoán khi các yếu tố tâm lý hoặc hành vi tác động xấu đến quá trình hoặc kết quả của một tình trạng sức khỏe hiện loạn triệu chứng cơ thể được đặc trưng bởi nhiều phàn nàn về thể chất dai dẳng không giả mạo và có liên quan đến những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi quá mức và không phù hợp liên quan đến những triệu chứng đó. Xem bảng Thang điểm triệu chứng cơ thể 8 , được sử dụng để xác định tần suất bệnh nhân bị làm phiền bởi 8 triệu chứng đã chọn trong 7 ngày trước đó. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền. Những triệu chứng có thể nặng hay nhẹ, nhanh khỏi hay kéo dài tùy vào thể trạng và mức độ chấn động tâm lý. Ban có thể gặp các triệu chứng và dấu hiệu khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Khi nào bạn cần gặp bác sĩ? Tốt nhất bạn nên tìm tới bệnh viện hoặc bác sĩ gần nhất ngay khi bạn nhận thấy các dấu hiệu và triệu chứng có thể gây ra bởi rối loạn chuyển dạng kể trên. Nếu vấn đề gây ra các triệu chứng là do bạn mắc bệnh khác thì bạn càng cần phải được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Nếu chẩn đoán xác định là do rối loạn chuyển dạng, bác sĩ tâm lý có thể giúp bạn cải thiện các triệu chứng và ngăn chặn các giai đoạn tiếp theo của rối loạn. Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân nào gây ra rối loạn chuyển dạng rối loạn dạng cơ thể? Những rối loạn thể chất của rối loạn dạng cơ thể đều cần một sang chấn tâm lý nào đó kích thích. Tuy nhiên, nguyên nhân vì sao sang chấn tâm lý lại gây bệnh vẫn chưa được làm rõ. Các chuyên gia đưa ra giả thiết rằng, chấn động tâm thần quá lớn có thể đủ ảnh hưởng đến phần não và dây thần kinh điều khiển chức năng của cơ thể khác. Hậu quả là phần cơ thể đó sẽ biểu hiện lâm sàng các triệu chứng như tê liệt hoặc mất chức năng tạm thời. Rối loạn chuyển dạng không phải bệnh truyền nhiễm và không di truyền. Nguy cơ mắc phải Những ai thường mắc phải rối loạn chuyển dạng rối loạn dạng cơ thể? Rối loạn dạng cơ thể khá hiếm, xảy ra ở 11 trên 100000 người. Bệnh nhân đa số là nữ. Trẻ dưới 10 tuổi và những người trên 35 tuổi hiếm khi mắc bệnh. Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc rối loạn chuyển dạng rối loạn dạng cơ thể? Các yếu tố làm tăng nguy cơ rối loạn chuyển dạng bao gồm Căng thẳng quá mức; Là nữ giới; Mắc bệnh tâm thần như rối loạn cảm xúc, lo lắng, rối loạn phân ly hay một vài rối loạn nhân cách khác; Mắc bệnh thần kinh gây ra các triệu chứng tương tự như động kinh; Có thành viên gia đình mắc rối loạn chuyển dạng; Có tiền sử bị xâm phạm về thể xác hay tình dục, bị bỏ rơi khi còn nhỏ. Không có các yếu tố nguy cơ bệnh không có nghĩa là bạn không thể mắc bệnh. Những yếu tố trên chỉ là số chung và chỉ mang tính tham khảo. Bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa để biết thêm chi tiết. Điều trị hiệu quả Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ. Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán rối loạn chuyển dạng rối loạn dạng cơ thể? Bác sĩ chuyên khoa thần kinh sẽ cho bạn làm các xét nghiệm và khám lâm sàng. Các xét nghiệm hình ảnh bao gồm chụp cắt lớp CT, chụp cộng hưởng từ MRI và siêu âm. Ngoài ra, còn có đo điện não đồ EEG. Sau khi loại trừ khả năng bạn bị các bệnh có cùng triệu chứng khác kết hợp lịch sử sang chấn tâm lý trước đó, bác sĩ mới chẩn đoán bạn bị rối loạn chuyển dạng. Những phương pháp nào dùng để điều trị rối loạn chuyển dạng rối loạn dạng cơ thể? Điều trị rối loạn chuyển dạng rất khó khăn do cơ thể bạn có triệu chứng nhưng kết quả xét nghiệm lại bình thường. Bác sĩ chuyên khoa tâm thần hoặc bác sĩ tâm lý có thể cùng tham gia điều trị bệnh khiến bạn bị rối loạn chuyển dạng. Nếu bạn mắc bệnh về thần kinh như động kinh hoặc dị tật ở não, bác sĩ tâm thần sẽ chỉ định thuốc đặc trị và liệu trình phù hợp chữa bệnh tâm thần cho bạn. Bác sĩ tâm lý sẽ thiết kế phương pháp điều trị cho bạn bao gồm liệu pháp nhận thức và hành vi. Liệu pháp nhận thức chỉ ra cho bạn lối tư duy nào gây ra sang chấn tâm lý. Liệu pháp hành vi phá vỡ mối liên kết giữa lối tư duy đó với căng thẳng và lo âu để giảm chấn động tâm lý gây rối loạn chuyển dạng. Chế độ sinh hoạt phù hợp Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của rối loạn chuyển dạng rối loạn dạng cơ thể? Bạn có thể kiểm soát tốt tình trạng bệnh của mình nếu bạn lưu ý vài điều dưới đây Nghe theo hướng dẫn và lời khuyên của bác sĩ; Không tự ý chữa trị ở nhà; Không giấu bệnh nếu có bất cứ bất thường nào xuất hiện; Tránh để bị sốc hoặc chấn động tâm lý nhiều. Nếu có bất kỳ thắc mắc hay đề nghị nào, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế để được có giải đáp tốt nhất. Rối loạn nội tiết có thể là kết quả của Rối loạn chức năng bắt nguồn từ chính tuyến nội tiết ngoại vi rối loạn sơ cấpSự kém kích thích của tuyến yên rối loạn thứ phát cho dù do rối loạn chức năng nội tại của tuyến yên hoặc do vùng dưới đồi bị kích thích kém tuyến yênSự kích thích quá mức của tuyến yên rối loạn thứ phát cho dù là do rối loạn chức năng tuyến yên nội tại hoặc sự kích thích quá mức của tuyến yên bởi vùng dưới đồiHiếm khi, do phản ứng bất thường của mô đối với các hormone thường là giảm chức năng. Các rối loạn có thể dẫn đến sự sản sinh quá mức hormone tăng chức năng hoặc không đủ hormone giảm chức năng. Rối loạn chức năng của các tuyến nội tiết có thể là do tuyến yên bị kích thích quá mức cho dù là do rối loạn chức năng nội tại của tuyến yên hay do vùng dưới đồi bị kích thích tuyến yên. Cường năng của tuyến nội tiết có thể do tuyến yên bị kích thích quá mức nhưng phổ biến nhất là do tuyến nội tiết đó quá sản hoặc tân sinh. Trong một số trường hợp, các loại ung thư từ các mô khác có thể sản sinh ra hormone sản xuất hormone ngoại bào. Sự dư thừa hormone cũng có thể do sử dụng hormone ngoại sinh. Trong một số trường hợp, bệnh nhân dùng các sản phẩm không kê đơn có chứa hormone và có thể không biết hoặc không nói với thầy thuốc. Khi một hormone nội tiết ngoại vi sản xuất ra một enzym lỗi có thể dẫn đến việc sản xuất quá nhiều các hormone ở gần điểm gián đoạn. Cuối cùng, sự sản xuất quá nhiều hormone có thể xảy ra như một đáp ứng đối với tình trạng bệnh. Sự suy giảm chức năng của một tuyến nội tiết có thể do tuyến yên bị kích thích dưới mức cho dù là do rối loạn chức năng nội tại của tuyến yên hay do vùng dưới đồi bị kích thích kém tuyến yên. Suy giảm chức năng xuất phát từ tuyến ngoại biên có thể là do các rối loạn bẩm sinh hoặc mắc phải bao gồm bệnh tự miễn, khối u, nhiễm trùng, bệnh mạch máu, và ngộ độc. Một số hormone cần chuyển đổi sang dạng hoạt hóa sau khi bài tiết ra từ tuyến nội tiết ngoại vi. Một số rối loạn có thể khóa bước này ví dụ, bệnh thận có thể ức chế việc sản sinh ra dạng vitamin D hoạt động. Các kháng thể đối với hormone lưu hành hoặc thụ thể của nó có thể cản trở khả năng của hormone gắn kết với thụ thể của hoặc thuốc có thể làm tăng tỷ lệ giải phóng hormon. Các chất lưu hành cũng có thể cản trở các chức năng của hormon. Những bất thường của thụ thể hoặc ở những nơi khác trong mô ngoại vi cũng có thể gây giảm chức năng của tuyến nội tiết. Bởi vì các triệu chứng rối loạn nội tiết có thể bắt đầu một cách lặng lẽ và không đặc hiệu, việc phát hiện triệu chứng lâm sàng thường muộn sau nhiều tháng hoặc nhiều năm. Vì lý do này, chẩn đoán sinh hóa thường rất cần thiết; nó thường đòi hỏi phải đo nồng độ trong máu của hormone các nội tiết ngoại vi, hormone tuyến yên, hoặc cả hai. Bởi vì hầu hết các hormone có nhịp sinh học, các phép đo cần được thực hiện vào một thời gian nhất định trong ngày. Hormone thay đổi trong thời gian ngắn ví dụ, hormone LH đòi hỏi phải có được 3 hoặc 4 giá trị trên 1 hoặc 2 h hoặc sử dụng một mẫu máu trộn lẫn. Hormone thay đổi theo từng tuần ví dụ estrogen đòi hỏi lấy các giá trị riêng biệt cách nhau 1 tuần. Hormone tự do hoặc có hoạt tính sinh học ví dụ, hormone không bị gắn với một chất nào đó liên kết với nó thường được cho là dạng hoạt động. Hormone tự do hoặc có hoạt tính sinh học được đo bằng cách sử dụng lọc máu cân bằng, siêu lọc, hoặc phương pháp chiết dung môi để tách hormone tự do và albumin gắn hormone khỏi liên kết với globulin. Những phương pháp này có thể tốn kém và mất thời gian. Các xét nghiệm hormone tự do có hoạt tính tương đồng và cạnh tranh, mặc dù thường được sử dụng trong thương mại, nhưng không phải lúc nào cũng chính xác và không nên sử dụng. Các nồng độ hormone tự do có thể tính gián tiếp bằng cách đo nồng độ của protein liên kết và sử dụng chúng để tính tổng lượng hormone trong huyết thanh. Tuy nhiên, các phương pháp gián tiếp sẽ không chính xác nếu khả năng liên kết với protein của hormone đã bị thay đổi ví dụ, do rối loạn.Trong một số trường hợp, các ước tính gián tiếp khác được sử dụng. Ví dụ, vì hormone tăng trưởng GH có thời gian bán thải trong huyết thanh ngắn và rất khó phát hiện, yếu tố tăng trưởng 1 giống insulinIGF-1, được sản xuất để đáp ứng với GH, thường được đo như một chỉ số hoạt động của GH. Nồng độ hormone có hoạt tính sinh học thường là đo trong máu. Trong nhiều trường hợp, xét nghiệm động học là cần thiết. Vì vậy, trong trường hợp các cơ quan giảm chức năng, có thể cần làm test kích thích ví dụ, Kích thích ACTH Test kích thích Bệnh Addison tiến triển thầm lặng, chức năng vỏ thượng thận ngày một suy giảm. Nó gây ra các triệu chứng khác nhau, bao gồm hạ huyết áp, sạm da, thậm chí cơn suy thượng thận cấp với biến cố... đọc thêm . Trong trường hợp cường chức năng, cần làm test ức chế ví dụ, ức chế dexamethasone đàn áp Test ức chế bằng Dexamethasone Hội chứng Cushing gồm một nhóm các triệu chứng lâm sàng gây ra bởi mức độ cao mạn tính của cortisol hoặc corticosteroid liên quan. Bệnh Cushing là hội chứng Cushing là kết quả của việc sản xuất... đọc thêm . Thay thế hormone thiếuKiềm chế sản xuất hormone quá mứcLiệu pháp phóng xạ, phẫu thuật, và các loại thuốc ức chế sản sinh hormone được sử dụng để điều trị cường chức năng tuyến nội tiết. Trong một số trường hợp, thuốc đối kháng thụ thể được sử dụng ví dụ pegvisomant là chất đối kháng thụ thể hormone tăng trưởng được sử dụng ở bệnh nhân u tuyến yên tiết hormone tăng trưởng. Hormone thay đổi dần theo số tuổi. Hầu hết nồng độ các hormone số mức độ hormone vẫn ổn số mức hormone tăng thay đổi liên quan đến lão hóa tương tự như ở những bệnh nhân bị thiếu hụt hormone. Một số bằng chứng cho thấy thay thế một số hormone ở người cao tuổi có thể cải thiện các kết cục chức năng ví dụ sức mạnh cơ bắp, mật độ khoáng xương nhưng vẫn chưa có bằng chứng về những ảnh hưởng đối với tử vong. Trong một số trường hợp, thay thế nội tiết tố có thể có hại, vì làm tăng nguy cơ ung thư vú khi mãn kinh oestrogen và progesterone liệu pháp. Một lý thuyết cạnh tranh là sự suy giảm mức độ hormone liên quan đến tuổi tác tượng trưng cho sự giảm chuyển hóa tế bào. Khái niệm này dựa trên tỷ lệ lý thuyết sống của lão hóa tức là nhanh hơn tốc độ trao đổi chất của cơ thể, nhanh hơn nó chết. Khái niệm này dường như được hỗ trợ bởi các nghiên cứu về tác động của chế độ ăn kiêng. Hạn chế làm giảm mức độ kích thích tố kích thích sự trao đổi chất, do đó làm chậm tốc độ trao đổi chất; hạn chế cũng kéo dài cuộc sống ở loài gặm nhấm. Mức độ hormone giảm khi lão hóa bao gồm Dehydroepiandrosterone DHEA và DHEA sulfateEstrogenHormone tăng trưởng và yếu tố tăng trưởng giống insulin 1MelatoninPregnenoloneTestosteroneDehydroepiandrosterone DHEA và hàm lượng sulfate giảm đáng kể theo độ tuổi. Mặc dù người ta nghĩ rằng bổ sung DHEA ở người cao tuổi là tốt, hầu hết các thử nghiệm có đối chứng không cho thấy bất kỳ lợi ích lớn là tiền thân của tất cả các hormone steroid được biết đến. Nồng độ chất này cũng suy giảm theo tuổi giống DHEA. Các nghiên cứu trong những năm 1940 cho thấy sự an toàn và lợi ích của nó ở những người bị viêm khớp, nhưng các nghiên cứu bổ sung cho thấy nó không có tác dụng có lợi nào lên bộ nhớ và sức mạnh cơ độ hormone tăng trưởng GH và hormone nội tiết ngoại vi yếu tố tăng trưởng giống insulin 1 [IGF-1] giảm theo độ tuổi. Thay thế GH ở người lớn tuổi đôi khi tăng khối lượng cơ nhưng không tăng sức mạnh cơ có thể gặp ở người suy dinh dưỡng. Tác dụng phụ ví dụ hội chứng ống cổ tay, chứng đau khớp, giữ nước rất phổ biến. GH có thể có vai trò trong điều trị ngắn hạn đối với một số bệnh nhân lớn tuổi bị suy dinh dưỡng, nhưng ở những bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng, GH làm tăng tử vong. Chất kích thích tiết kích thích sản xuất GH sinh lý có thể cải thiện lợi ích và giảm nguy độ melatonin, một hormone được sản xuất bởi tuyến tùng, cũng giảm theo tuổi. Sự suy giảm này đóng một vai trò quan trọng trong việc mất nhịp sinh học theo tuổi. Mức độ hormone duy trì ổn định khi một người già đi bao gồm Hormone kích thích vỏ thượng thận cơ bảnCortisol cơ bản1,25-DihydroxycholecalciferolEstradiol ở nam giớiInsulin đôi khi tăng lênHormon kích thích tuyến giáp TSHThyroxine Hormone tăng liên quan đến lão hóa có liên quan đến khiếm khuyết thụ thể hoặc khiếm khuyết thụ thể sau, dẫn đến suy giảm chức năng. Các kích thích tố này bao gồm Hormone vỏ thượng thận ACTH – tăng phản ứng với corticotropin-làm giảm hormoneActivin ở nam giớiYếu tố lợi tiểu natri nhĩCholecystokininHormone kích thích nang trứngGonadotropins ở phụ nữ NorepinephrineHormone cận giápGlobulin liên kết hormone giới tínhPeptide vận mạch ở ruộtVasopressin cũng mất nhịp sinh học Rối loạn dạng cơ thể là tình trạng rối loạn tâm thần dễ nhận thấy do người bệnh chú ý quá mức về các khuyết điểm liên quan đến ngoại hình. Bệnh kéo dài có thể gây các biến chứng nghiêm trọng, do đó cần được điều trị sớm để giảm thiểu nguy cơ. Rối loạn dị dạng cơ thể BDD là một rối loạn tâm thần dễ nhận thấy, trong đó một người bị bận tâm với một khiếm khuyết về thể chất không có thật hoặc một khiếm khuyết nhỏ mà những người khác không nhìn thấy. Do đó, những người mắc chứng rối loạn này tự coi mình là "xấu xí" và thường tránh tiếp xúc với xã hội hoặc chuyển sang phẫu thuật thẩm mỹ để cố gắng cải thiện ngoại có nhiều đặc tính giống rối loạn ăn uống và rối loạn ám ảnh cưỡng chế. BDD giống với rối loạn ăn uống ở chỗ cả 2 đều liên quan đến thay đổi về ngoại hình. Tuy nhiên, hai bệnh này khác nhau ở chỗ người mắc chứng rối loạn ăn uống thường xuyên lo lắng về cân nặng và ngoại hình trên toàn cơ thể, trong khi người bị BDD lại chú ý đến một bộ phận cụ thể trên cơ người mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế OCD có những suy nghĩ, nỗi sợ hãi hoặc hình ảnh nỗi ám ảnh lặp đi lặp lại mà họ không thể kiểm soát. Sự lo lắng hồi hộp được tạo ra bởi những suy nghĩ này dẫn đến việc hình thành một số thói quen nhất định. Với BDD, khi một người bận tâm đến khuyết điểm của mình sẽ dẫn đến xuất hiện một số hành vi như liên tục nhìn vào gương hoặc ngoáy vào da. Người bị BDD cuối cùng sẽ trở nên bị ám ảnh bởi những khiếm khuyết mà xã hội, công việc và gia đình gán là một rối loạn mãn tính không phụ thuộc vào tuổi tác. Bệnh thường bắt đầu sớm ở tuổi thiếu niên hoặc vị thành vấn đề về ngoại hình mà người bị BDD quan tâm nhất bao gồmLàn da Bao gồm nếp nhăn, sẹo, mụn trứng cáTóc Bao gồm ngọn tóc, thân tóc hoặc không có điểm khuôn mặt Chủ yếu là liên quan đến mũi, nhưng cũng có thể liên quan đến các vị trí lượng cơ thể Người mắc bệnh có thể bị ám ảnh về trọng lượng hoặc trương lực thước của dương vật, cơ bắp, vú, đùi, môngMùi cơ thể Rối loạn dạng cơ thể là một dạng rối loạn tâm thần thường gặp 2. Nguyên nhân gây rối loạn dạng cơ thể Nguyên nhân chính xác của BDD chưa được xác định rõ. Về lý thuyết, rối loạn liên quan đến một vấn đề về kích thước hoặc chức năng của một số vùng xử lý thông tin của não về ngoại hình. Trên thực tế, rối loạn dạng cơ thể xảy ra ở những người bị rối loạn tâm thần khác như trầm cảm, lo yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến sự phát triển hoặc kích hoạt BDD bao gồmĐã trải qua nhiều sự kiện đau thương hoặc xung đột cảm xúc trong thời thơ ấuLòng tự trọng thấpNhận nhiều lời chỉ trích từ cha mẹ hoặc những người xung quanhÁp lực từ môi trường sống coi trọng ngoại hình 3. Triệu chứng của rối loạn dạng cơ thể Một số dấu hiệu cảnh báo rối loạn dạng cơ thể BDD bao gồmThực hiện các hành vi lặp đi lặp lại và tốn thời gian như nhìn vào gương, tự lột da và cố gắng che đậy khuyết điểm hình thứcThường xuyên đặt câu hỏi với người khác về khuyết điểm bạn đang chú ý đếnLặp đi lặp lại việc chạm vào khiếm khuyết hình thứcXảy ra các vấn đề tại nơi làm việc, trường học hoặc trong các mối quan hệ do không thể ngừng tập trung vào khiếm khuyết hình thứcCảm thấy tự ti và không muốn ra ngoài nơi công cộng, hoặc cảm thấy lo lắng khi xung quanh có nhiều ngườiTư vấn nhiều lần với các chuyên gia y tế, chẳng hạn như bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ hoặc bác sĩ da liễu, để tìm cách cải thiện ngoại hình của mình 4. Các yếu tố nguy cơ Rối loạn dạng cơ thể thường bắt đầu trong những năm đầu tuổi thiếu niên và nó ảnh hưởng đến cả nam và số yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển hoặc kích hoạt rối loạn dạng cơ thể, bao gồmCó họ hàng ruột thịt mắc rối loạn dạng cơ thể hoặc rối loạn ám ảnh cưỡng chếTrải nghiệm cuộc sống tiêu cực như bị trêu chọc thời thơ ấu, bỏ bê hoặc lạm dụngĐặc điểm về tính cách như chủ nghĩa hoàn hảoÁp lực xã hội hoặc cầu toàn về sắc đẹpĐang gặp phải các vấn đề tâm thần khác như lo lắng hoặc trầm cảm Những áp lực, cầu toàn về sắc đẹp dễ mắc bệnh rối loạn dạng cơ thể 5. Biến chứng Các biến chứng có thể được gây ra bởi hoặc liên quan đến rối loạn dạng cơ thể bao gồmTrầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khácSuy nghĩ hoặc có hành vi tự sátRối loạn lo âu, bao gồm rối loạn lo âu xã hội ám ảnh sợ xã hộiRối loạn ám ảnh cưỡng chếRối loạn ăn uốngLạm dụngVấn đề sức khỏe từ các hành vi như tự lột daĐau đớn về thể xác hoặc nguy cơ biến dạng do can thiệp phẫu thuật nhiều lần 6. Phòng ngừa Các biện pháp phòng ngừa rối loạn dạng cơ thể không được xác định rõ. Tuy nhiên, vì rối loạn dạng cơ thể thường bắt đầu trong những năm đầu tuổi thiếu niên nên việc xác định sớm và bắt đầu điều trị có thể có ích. Điều trị duy trì và lâu dài cũng có thể giúp ngăn ngừa rối loạn dạng cơ thể tái phát. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Bài viết tham khảo nguồn XEM THÊM Rối loạn vận mạch, rối loạn dạng cơ thể điều trị như thế nào? Vì sao bạn khó tập trung? Ám ảnh về sự sạch sẽ có phải là bệnh? Rối loạn khiếm khuyết cơ thể là một rối loạn tâm thần. Trong đó bạn không thể ngừng suy nghĩ về một hoặc nhiều khuyết điểm về ngoại hình của mình. Đó có thể là một khuyết điểm nhỏ mà người khác không thể thấy được. Nhưng bạn cảm thấy rất xấu hổ, ngại ngùng và lo lắng đến mức có thể tránh né xã hội. Hãy cùng tìm hiểu về chứng rối loạn này thông qua bài viết sau của chuyên khoa Tâm thần Nguyễn Trung Nghĩa. Nội dung bài viết Dấu hiệu nhận biết Rối loạn khiếm khuyết cơ thể là gì?Những nguyên nhân nào gây ra?Hậu quả do bệnh mang lạiCác biện pháp phòng ngừaChẩn đoán bệnh rối loạn khiếm khuyếtPhương pháp điều trị Dấu hiệu nhận biết Rối loạn khiếm khuyết cơ thể là gì? Khi bị rối loạn khiếm khuyết cơ thể, bạn thường chú ý đến ngoại hình của mình và liên tục nhìn vào gương, chải chuốt hoặc tìm cách trấn an bản thân, đôi khi trong nhiều giờ mỗi ngày. Khuyết điểm bạn nhận biết được và các hành vi lặp lại khiến bạn đau khổ. Ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày. Bạn tìm kiếm nhiều mỹ phẩm để cố gắng “sửa chữa” khuyết điểm đó của mình. Sau đó, bạn có thể tạm thời hài lòng hoặc bớt đau khổ. Nhưng thường thì sự lo âu sẽ quay trở lại và bạn có thể tiếp tục tìm kiếm các cách khác để sửa chữa khuyết điểm của mình. 1. Các triệu chứng của bệnh Bận tâm quá mức đến khuyết điểm về ngoại hình mà người khác không thể nhìn thấy hoặc chỉ biểu hiện rất nhỏ. Có niềm tin mãnh liệt về khuyết điểm ngoại hình khiến bạn xấu xí hoặc dị dạng. Tin rằng người khác chú ý đặc biệt đến ngoại hình của bạn theo cách tiêu cực hoặc chế giễu bạn. Khó chống lại hoặc kiểm soát các hành vi nhằm khắc phục hoặc che giấu khuyết điểm. Chẳng hạn như thường xuyên kiểm tra gương, chải chuốt hoặc bóc da. Cố gắng che giấu khuyết điểm bằng quần áo hoặc trang điểm. Thường xuyên so sánh ngoại hình của mình với người khác. Thường xuyên tìm kiếm sự trấn an về ngoại hình từ người khác. Có khuynh hướng cầu toàn. Ít thỏa mãn khi tìm kiếm các loại mỹ phẩm hoặc thẩm mỹ. Tránh né xã hội. Sự bận tâm về ngoại hình và những suy nghĩ quá mức và hành vi lặp lại có thể không mong muốn, khó kiểm soát và tốn thời gian. Gây ra sự đau khổ hoặc vấn đề lớn trong cuộc sống, công việc, học tập hoặc các lĩnh vực khác. Xem thêm Những điều cần biết về chứng Rối loạn phân ly 2. Các bộ phận cơ thể thường được chú ý Mặt, chẳng hạn như mũi, da, nếp nhăn, mụn trứng cá và các nhược điểm khác. Tóc, chẳng hạn như bề ngoài, mỏng và hói. Da và tĩnh mạch. Kích thước vú. Kích thước và sự rắn chắc của cơ bắp. Bộ phận sinh dục. Sự bận tâm đến việc cơ thể của bạn quá nhỏ hoặc không đủ cơ bắp rối loạn khiếm khuyết cơ bắp xảy ra hầu như chỉ ở nam giới. Nhận thức về ngoại hình có thể thay đổi tùy lúc. Bạn có thể nhận ra rằng niềm tin của bạn là quá mức hoặc không đúng sự thật. Hoặc nghĩ rằng chúng có thể đúng hoặc hoàn toàn là sự thật. Bạn càng tin bao nhiêu, bạn càng gặp nhiều đau khổ và gián đoạn trong cuộc sống bấy nhiêu. Những nguyên nhân nào gây ra? Chưa có nguyên nhân nào được xác định gây ra rối loạn khiếm khuyết cơ thể. Điều đó có thể xuất phát từ sự kết hợp của nhiều vấn đề. Như tiền sử gia đình có rối loạn, bất thường ở não và những đánh giá hoặc trải nghiệm tiêu cực về cơ thể hoặc bản thân. Các yếu tố nguy cơ Rối loạn khiếm khuyết cơ thể thường bắt đầu trong những năm đầu của thời niên thiếu. Ảnh hưởng đến cả nam và nữ. Một số yếu tố dường như làm tăng nguy cơ tiến triển hoặc thúc đẩy đến rối loạn khiếm khuyết cơ thể, bao gồm Có người thân bị rối loạn khiếm khuyết cơ thể hoặc rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Trải nghiệm tiêu cực trong cuộc sống. Chẳng hạn như bị trêu chọc, bỏ rơi hoặc lạm dụng trong thời thơ ấu. Một số đặc điểm tính cách, chẳng hạn như cầu toàn. Có một tình trạng tâm thần khác, chẳng hạn như lo âu hoặc trầm cảm. Áp lực xã hội hoặc kỳ vọng về cái đẹp là một trong các yếu tố nguy cơ dẫn đến rối loạn khiếm khuyết cơ thể Hậu quả do bệnh mang lại Rối loạn trầm cảm chủ yếu hoặc rối loạn khí sắc khác. Suy nghĩ hoặc hành vi tự sát. Rối loạn lo âu, bao gồm rối loạn lo âu xã hội ám ảnh sợ xã hội. Rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Chứng rối loạn ăn uống. Lạm dụng chất. Vấn đề sức khỏe từ các hành vi như bóc da. Đau đớn về thể xác hoặc nguy cơ biến dạng do can thiệp phẫu thuật nhiều lần. Các biện pháp phòng ngừa Chưa có cách nào được biết có thể ngăn ngừa rối loạn khiếm khuyết cơ thể. Tuy nhiên, vì nó thường bắt đầu trong những năm đầu của tuổi thiếu niên, việc xác định rối loạn sớm và bắt đầu điều trị có thể có ích. Điều trị duy trì lâu dài cũng có thể giúp ngăn ngừa tái phát các triệu chứng rối loạn khiếm khuyết cơ thể. Chẩn đoán bệnh rối loạn khiếm khuyết Chẩn đoán rối loạn khiếm khuyết cơ thể sau khi đã loại trừ các bệnh lý y khoa khác, thường dựa trên Đánh giá tâm lý, đánh giá các yếu tố nguy cơ và suy nghĩ, cảm xúc và hành vi liên quan đến hình ảnh tiêu cực của bản thân. Tiền sử cá nhân, xã hội, gia đình và y khoa. Các triệu chứng được liệt kê trong Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần DSM-5, được xuất bản bởi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ. Phương pháp điều trị Điều trị rối loạn khiếm khuyết cơ thể bao gồm sự kết hợp giữa liệu pháp nhận thức hành vi và thuốc. 1. Liệu pháp nhận thức hành vi Liệu pháp nhận thức hành vi đối với rối loạn khiếm khuyết cơ thể tập trung vào Học cách hiểu được tại sao những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi tiêu cực duy trì theo thời gian. Thử thách những suy nghĩ tiêu cực tự động về hình ảnh cơ thể bạn và học cách suy nghĩ linh hoạt hơn. Học các cách khác nhau để quản lý sự thôi thúc hoặc hành vi lặp lại, giảm thiểu việc soi gương hoặc tìm kiếm sự trấn an. Dạy cho bạn những hành vi khác để cải thiện sức khỏe tinh thần, chẳng hạn như giải quyết vấn đề tránh né xã hội. Bạn và nhà trị liệu có thể thảo luận về mục tiêu trị liệu và phát triển một kế hoạch điều trị được cá nhân hóa để học hỏi và củng cố các kỹ năng ứng phó. Thành viên trong gia đình tham gia vào quá trình điều trị là một điều rất quan trọng, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên. 2. Thuốc Không có loại thuốc nào được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ FDA phê duyệt để điều trị rối loạn khiếm khuyết cơ thể. Tuy nhiên, các loại thuốc dùng để điều trị các rối loạn tâm thần khác – như trầm cảm và rối loạn ám ảnh cưỡng chế – có thể có hiệu quả. Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc SSRI. Vì rối loạn khiếm khuyết cơ thể một phần là do serotonin trong não, nên SSRI được chỉ định. SSRI có hiệu quả đối với rối loạn khiếm khuyết cơ thể hơn các thuốc chống trầm cảm khác. Có thể giúp kiểm soát suy nghĩ tiêu cực và các hành vi lặp lại. Các loại thuốc khác. Trong một số trường hợp, có thể sử dụng các loại thuốc khác ngoài SSRI, tùy thuộc vào triệu chứng của bạn. Thuốc điều trị rối loạn khiếm khuyết cơ thể 3. Nhập viện Trong một số trường hợp, rối loạn khiếm khuyết cơ thể có thể nghiêm trọng đến mức phải nhập viện. Thường khi bạn không thể làm được các công việc sinh hoạt hàng ngày hoặc ngay khi bạn có nguy cơ làm hại chính mình. 4. Thay đổi lối sống Bám sát kế hoạch điều trị Đừng bỏ qua các buổi trị liệu, ngay cả khi bạn không muốn đi. Ngay cả khi bạn cảm thấy khỏe, hãy tiếp tục dùng thuốc. Nếu ngưng thuốc, các triệu chứng có thể quay trở lại. Bạn cũng có thể gặp các triệu chứng giống như cai rượu do ngừng thuốc quá đột ngột. Tìm hiểu về bệnh của bạn Giúp tiếp thêm động lực và thúc đẩy bạn bám sát kế hoạch điều trị. Chú ý đến các dấu hiệu cảnh báo Hỏi bác sĩ hoặc nhà trị liệu về những thứ có thể kích hoạt các triệu chứng của bạn. Lập kế hoạch để biết phải làm gì nếu các triệu chứng quay trở lại. Liên hệ với bác sĩ hoặc nhà trị liệu nếu nhận thấy bất kỳ thay đổi nào về triệu chứng hoặc cảm giác. Thực hành các kỹ năng đã học Thường xuyên thực hành các kỹ năng bạn đã học được trong quá trình trị liệu để chúng trở thành thói quen. Không dùng thuốc và rượu Rượu và thuốc kích thích có thể làm nặng thêm các triệu chứng hoặc tương tác với thuốc. Chủ động Hoạt động thể chất có thể giúp kiểm soát nhiều triệu chứng như trầm cảm, căng thẳng và lo lắng. Đi bộ, chạy bộ, bơi lội, làm vườn hoặc tham gia các hình thức hoạt động thể chất khác mà bạn thích. Tuy nhiên, tránh tập thể dục quá mức như một cách để sửa chữa khuyết điểm. Chứng rối loạn khiếm khuyết cơ thể nếu không được điều trị, có thể trở nên tồi tệ hơn theo thời gian. Từ đó dẫn đến lo lắng, trầm cảm nặng, thậm chí là suy nghĩ và hành vi tự tử. Ngại ngùng và xấu hổ về ngoại hình có thể khiến bạn không tìm kiếm việc điều trị. Bác sĩ Tâm thần sẽ giúp bạn có được phương pháp điều trị tốt nhất và không bao giờ phán xét bạn. Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào, đừng ngại ngần, hãy liên hệ để được khám và điều trị sớm nhất.

rối loạn cơ thể